RA TÙ

 

     Bốn tuần lễ trôi qua, trại tù tập trung nhân lực đẩy mạnh công tác thu hoạch mùa lúa Ðông Xuân và dọn ruộng cấy cho kịp mùa vụ mới.

Hôm nay công việc đồng áng xem như hoàn tất. Cánh đồng lúa mạ mới cấy ngút mắt trải tận chân đèo. Tù nhân trở lại làm những công việc thường ngày tại các cơ sở sản xuất, chăn nuôi…

Lê Lâm được gọi tên lên trình diện cán bộ trực ban . Họ báo cho biết anh sẽ được tha với điều kiện ký đơn tình nguyện cư trú tại khu kinh tế mới Cát Tiên .

Ðối với anh về đâu ở đâu không còn quan trọng trên đất nước đã trở thành địa ngục trần gian nầy. Lâm chỉ mong được ra khỏi tù để thực hiện kế hoạch mà chàng đã sắp sẳn trong đầu .

Hai ngày sau, Giám thị trưởng đích thân trao giấy Ra trại cho Lâm và 20 đồng bạc đi đường kèm theo lời thòng : “ Dù đã mười năm rồi mà nhân dân vẫn còn căm thù “lính ngụy”. Vì vậy, dọc đường anh không được vào nhà dân, chúng tôi không chịu trách nhiệm những gì xảy ra trên lộ trình di chuyển”.

Ðể lại tất cả đồ dùng cho bạn bè, Lâm chỉ mặc duy nhất bộ đồ tù sọc xanh đỏ, loại áo quần dành cho tù binh Mỹ trước 75,  đơn độc lội bộ mười cây số đường rừng.

Bụng không đói nhưng khát nước khô cả cổ, Lâm muốn ghé vào một nhà nào đó để xin nước uống nhưng nhớ lời lão Phó giám-thị cảnh cáo ,         Lâm lại tiếp tục đi, nhưng cơn khát lả người, chàng đánh liều dừng lại trước căn nhà sát đường. Bất chợt, người đàn bà cụt tay xuất hiện dưới mái hiên. Lâm kinh hãi. Bạn chàng đã bị bà nầy ném viên đá vào đầu cách đây mười năm khi toán tù bị áp giải đi ngang qua nhà bà. Lòng căm phẫn của bà đối với “ngụy quân ngụy quyền” được nhân lên hàng trăm lần bởi sự tuyên truyền xúi giục của Việt Cộng. Bà đã chửi rủa,mạt sát thậm tệ đám tù binh đi qua. Lâm định quay lưng bỏ chạy, liền đó là giọng nói run run nhưng dịu dàng khiến chàng khựng lại :

Chú cứ vào đây dùng nước rồi đi. Bây giờ không phải là lúc mới “giải phóng” , chẳng còn ai tin lũ chúng nó nữa đâu, dân ngu đều bị lừa.

Bà già vào nhà bưng một bát nước trao cho Lâm . Ngỡ ngàng và xúc động, Lâm nhận ra được lòng cảm thông của bà đối với tù cải tạo.

Người thiếu phụ cở tuổi bốn mươi của mười năm về trước bây giờ tiều tụy, khô đét như một bà cụ . Cuộc đời bi thảm đến thế sao? Không dám nói một lời, Lâm chỉ gục đầu cảm ơn rồi rảo bước.

Bến xe khách của huyện miền núi hiện ra phía trước. Vài chiếc xe lam rách nát, một chiếc xe hơi hiệu Renault cổ lỗ, màu sơn đã bị giộp ra từng mảng. Một ngôi nhà ngói của Công ty Thương nghiệp nổi bật giữa xóm nhà lá tồi tàn của dân thị trấn.

Lâm ghé vào chiếc xe bán giải khát ăn một chiếc bánh ngọt và uống một ly sữa đậu nành nhợt nhạt hòa với vài muỗng đường đen. Bữa điểm tâm đầu tiên ngoài đời anh nghe mát lòng mát dạ!

Cơn mệt qua rồi, Lâm đứng lên trả tiền nước, cụ già ngồi bên vỗ vai chàng bảo:

– Con để đó bác trả cho, dành tiền ăn cơm dọc đường.

Anh đang ngại ngùng thì cô bé bán nước tiếp :

– Cháu biếu chú.

Lâm cảm ơn hai người  rồi bước đến chiếc xe khách . Chợt một cán bộ công an chận trước mặt xét hỏi giấy tờ. Lâm  trình giấy Ra Trại, hắn vừa đọc vừa nhìn chàng dò xét :

Anh còn giấy tờ nào có hình để chứng minh ?

Lâm nhủ thầm : “Vớ vẩn ! ở tù làm gì có hình ảnh để chứng minh” anh bực dọc trả lời:

Tôi từ trại cải tạo ra chỉ có độc nhất giấy nầy.

Hắn ngần ngừ rồi bỏ đi.

Chiếc xe chưa đầy khách nhưng vẫn rời bến. Lâm vội vàng chạy đến định chui vào thùng sau xe, bác tài xế gọi anh ra phía trước, nói nhỏ vào tai:

Ngồi phía sau xốc lắm.

Cái êm ái của chiếc ghế da độn mousse đâu sánh bằng nỗi cảm kích êm đềm trong lòng Lâm từ những cảm tình của người tài xế, của em bé, ông cụ, và người phụ nữ tật nguyền dành cho tù cải tạo.

Nhìn bộ áo quần Lâm mặc, bác tài nói :

“ Bộ áo quần tù nầy bây giờ có giá lắm đấy.”

Lâm ngạc nhiên nhìn bác tài.

Ông tiếp:

“Bọn lưu manh nài mua cho được bộ đồ nầy, giả dạng tù cải tạo lỡ đường. Chúng la cà xin tiền trong các khu phố. Ðồng bào thương tình anh em chế độ cũ bị đày ải trong lao tù, nên sẳn lòng giúp đỡ. Lâm chợt hiểu ra vì sao tên công an đòi hỏi giấy tờ có hình.

Xe đến bến, Lâm không còn kiên nhẫn đợi chờ, liền đón xe đò liên tỉnh để về kịp trong đêm. Chiếc xe ca chật ních người dừng lại trước mặt, Lâm cố lách mình chui sâu vào trong. Các bà các cô nói chuyện ồn ào. Một phụ nữ ngồi ở băng ghế sau cùng kể chuyện oang oang:                                                                                                                                                             “… Chúng nó ăn tạp lắm, như bầy cá tra gặp gì cũng đớp. Còn chuyện hưởng lạc hả? Chẳng khác chi lũ sói trên rừng lâu ngày thèm khát. Vợ mấy ông sĩ quan thời trước đang cải tạo, ngon như món thịt nhừ làm cho chúng thèm nhỏ dãi. Ðó là đối tượng được khuyến khích. Chúng gò ép, dụ dỗ, cưỡng bức để phá đổ hạnh phúc gia đình người ta”.                                                        

 Một bà khác tiếp :

“ Ở quê tôi đã xảy ra một vụ không tưởng tượng nổi. Một lão tập kết về Nam ép uổng đứa con gái riêng của vợ có bầu. Bà vợ già tố cáo hắn lên chính quyền. Y tuyên bố một câu rất là: “súc vật biện chứng!” : “ Vợ trồng cây, chồng có quyền ăn trái chứ…”rồi dẫn nhau  lên đất Lâm-Ðồng để tránh tiếng đời thị phi.

Người mẹ xấu hổ nhảy sông tự tử. Ðứa con gái hư đốn ấy đã một thời thoát li lên rừng, sau về hồi chánh. “Giải phóng” tới, y thị vênh váo với công trạng mấy năm làm giao liên. Nào ngờ tội hồi chánh đã bị “cách-mạng” đẩy vào trại Quân pháp. Người cha ghẻ từ Hà Nội về bảo lãnh y thị ra tù.”

Sự bạo mồm bạo miệng của mấy bà khiến Lâm rùng mình. Ở trong tù, câu chuyện như thế thuộc loại cực kỳ phản động, không chết cũng nằm nhà cùm nát cả xương ống chân. Ðể tránh mọi liên lụy, anh lách mình về hướng đầu xe. Trong cái rọ chứa người đông đảo nầy làm sao phân  biệt được ai là công an chìm, ai là cán bộ.

Băng sau tài xế, ba thanh niên đang thi nhau kể chuyện tiếu lâm. Người ngồi giữa kể rằng:

“Có một con bò gầy trơ xương nằm giữa đường gây ách tắc giao thông. Người chăn bò đánh nó cũng không dậy, kéo không đi.. Hành khách xuống xe bức cỏ dọc đường xúm vào khuyến dụ, nó vẫn ù-lỳ. Chợt, một cán bộ đặc trách dồn dân đi Kinh Tế Mới từ trong xe bước ra bảo: “Mầy muốn ở lại đồng bằng hay tao cho đi Kinh Tế Mới?” Con bò sợ quá lật bật đứng lên chạy mất!”

Mọi người cười ồ.

Những sự việc xảy ra trước mắt khiến cho Lâm bối rối và suy tư. Những bài học trong tù, những tin tức trên đài, trên báo đều nói lên một đất nước đang lớn mạnh, một xã hội ổn định, người người yêu tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa.

Mấy năm đầu ở trại tập trung, tù nhân thường xuyên được cán bộ chính ủy cấp sư đoàn, quân khu và cả trung ương về hướng dẫn học tập. Họ khẳng định: “Ðến năm 2000, nhà máy cơ khí Trần Hưng Ðạo tại miền Bắc sẽ sản xuất máy bay, hỏa tiễn, xe tăng. Ðại cường quốc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam rạng ngời trên thế giới sẽ được đón chào trong buổi bình minh của thế kỷ 21”.

Có lần, một cán bộ từ Quân ủy Trung ương, mang quân hàm Thượng Tá đến nói chuyện trước hai ngàn tù cải tạo. Ông ca ngợi sự thành công vượt bực của Liên Xô trên lĩnh vực không gian. Rằng dân tộc Sô Viết văn minh hơn Mỹ, họ đã lấy đá trên mặt trăng về địa cầu khảo cứu mà không cần bàn tay  người. Rằng họ đã đem tinh trùng bò đông đặc ở địa cầu lên mặt trăng để cấy cho giống bò cái trên đó. Cả hội trường im phăng phắc. Ông ta đinh ninh cử tọa đang ngưỡng mộ câu chuyện “thần thánh”của ông  nên cứ thế thao thao bất tuyệt.

May mắn cho nhân loại là trên nguyệt cầu không có loại bò cái đó cho nên tránh được cảnh lúc nhúc loài “bò thượng tá”  làm ô uế cả cung Hằng !

Lại có một chàng kỹ sư miền Bắc vào chỉ huy xây dựng đập Nghĩa Lâm cũng có cách nói cùng sách vở với cán bộ quân ủy kia rằng : “Liên-Xô đem cả giống lúa Thần Nông của nước ta trồng thí nghiệm trên mặt trăng. Không bao lâu nữa, những cánh đồng lúa thần nông mênh mông sẽ chín  vàng óng trên nguyệt cầu.” Và dĩ nhiên là ông ta được tù đặt tên mới là “kỹ-sư  Lúa!”

Lâm quyết định nghỉ đêm tại thị trấn Lộc An , nơi có gia đình  Thái Tụy, bạn cùng lớp với Trần thị Vi Hân, vị hôn thê của chàng. Năm ba bóng đèn điện lờ mờ rọi qua khung cửa sổ trong khu phố vắng lặng. Bà Lạc, mẹ của Tụy không nhận ra Lâm. Tuổi chưa đầy sáu lăm mà trông bà đã lú lẫn. Chàng định quay đi thì Hùng, em trai của Thái Tụy về. Cậu ta tỏ ra mừng rỡ khi được gặp lại Lâm .

Hùng tâm sự:  “Anh Huynh, chồng chị Tụy mất tích từ tháng tư bảy lăm .Chị ấy đi tìm chồng khắp các trại tập trung. Nghe ai ở tù ra là chị cố gặp cho bằng được để hỏi thăm về Huynh. Từ mấy năm qua chị đi buôn thuốc trừ sâu, phân hóa học và cả thuốc hút  ngoại nhập nữa. Ði lọt được vài ba chuyến, rồi bị thuế vụ hốt một chuyến là sạch vốn. Chị phải vay mượn vốn khác làm lại từ đầu để kiếm lời nuôi con và phụ giúp thuốc men cho mẹ. Năm vừa rồi chị mất sạch, đành đi Bảo Lộc xin làm công nhân hái chè.”

Chương ngắt lời Hùng :

            – Sao chị Tụy không tiếp tục dạy học ?                                                                                      

 – Ðâu được. Chị là vợ sĩ quan “ngụy” mà ! Ngay cả giáo viên dạy giỏi không có lý lịch xấu còn phải đi học tập bồi dưỡng chính trị cả năm trời mới được tiếp tục “trẻ gõ đầu”!         

Lâm ngẩn ngơ khi nghe Hùng nhấn mạnh nhóm từ “trẻ gõ đầu.” Hùng giải thích :

– Ngày trước học sinh tôn quí thầy bao nhiêu thì bây giờ thầy ngán học-sinh bấy nhiêu. Cái loại học trò con ông cháu cha, ỷ gia đình mình có công với cách mạng sanh tánh côn đồ đã từng hành hung cô thầy ngay trong lớp học vì làm phật ý chúng.

Lương giáo viên đâu bằng tiền quà ăn sáng của lũ con các quan “sứ quân” cấp huyện, cấp tỉnh. Với phiếu vải tiêu chuẩn hàng năm nhiều khi các cô lên lớp phải mặc bộ bà ba, có lúc mặc cả quần kaki xanh, xây chiếc mông bạc phếch trước mặt đám học trò tinh nghịch.  Ban đêm, các cô giáo còn phải đi bán hột vịt lộn, bán chè, bán bánh xèo. Các thầy có thêm nghề xe ôm… Ngay cả nữ sinh viên đại học phải làm thêm “nghề phụ đưa đồ…” mới đủ tiền đóng học phí. Trường Cao đẳng Sư phạm của cái tỉnh lẻ nầy còn nhan nhản ra đấy huống chi ở Sài Gòn, Hà Nội.

– “À nầy, anh đã ghé thăm nhà cũ của chị Vi Hân chưa ? Ðột ngột Hùng hỏi. Không chờ Lâm trả lời,” hắn tiếp:

Vào  cuối năm 75, ông Trần Lương bố ruột chị Hân từ Hà Nội về Nam gặp lại vợ. Bà Cẩm cung phụng ông chồng hết mình còn hối thúc ông xin chuyển về Nam công tác. Ông Lương sợ người con gái đã hứa hôn với “ngụy” sẽ ảnh hưởng đến lý lịch của mình nên ông gây sức ép với vợ buộc chị Hân phải bỏ anh lấy mộït cán bộ miền Bắc. Chị cương quyết từ chối thề sẽ cạo đầu chờ đợi anh. Ông Lương  tuyên bố từ chị Hân không thừa nhận là con, thế là chị bỏ nhà ra đi. Ông gởi đơn lên chính quyền tố cáo con gái trốn ra nước ngoài, từ nay ông không còn trách nhiệm trên phương diện pháp lí. Mặt khác yêu cầu trại cải tạo  cho Lê Lâm  định cư vùng kinh tế mới.

Qua nhiều ngày tìm kiếm con gái mà vẫn không gặp, bà Cẩm như điên như dại, khóc ngày khóc đêm. Bà cảm thấy có lỗi với con do quá nễ chồng nên không một lời ngăn cản .

Bỗng một hôm, bà Cẩm tay cầm con dao đầy máu chạy dọc theo đường phố gào lên :

“ Tao giết chết nó rồi, đáng đời thằng lưu manh! đáng đời thằng đểu cáng!”

Người ta đuổi theo bà để lấy con dao, nhưng bà chạy vào buồng khóa cửa lại. Khi du kích phá được cửa vào  thì bà đã treo cổ tự vẫn bằng sợi dây dù côït võng.

Trong  phòng kế bên, xác ông Trần Lương gục chết trước cánh cửa tủ đựng tiền bạc, nữ trang của bà Cẩm. Những viên ngọc trai rơi vung vãi từ xâu chuỗi bị đứt. Trên tay ông còn cầm chiếc chìa khóa tủ. Hai vết dao đâm sau lưng trúng phổi  đã làm ông chết tại chỗ.

Từ đó, đêm nào cũng nghe tiếng ò rợn người như bò bị thọc tiết phát ra từ căn phòng của lão  cán bộ bị giết.

Lâm thiếp đi trong giấc ngủ mệt nhoài. Anh mơ thấy một người đàn ông thân thể trần truồng bê bết máu, hắn đuổi theo anh trên tay lấp lánh con dao găm . Lâm cố chạy nhưng đôi chân lại tê cứng không theo ý mình. Hắn theo sau mỗi lúc một gần hơn, anh khiếp quá hét lên kêu cứu. Hùng nằm cạnh vỗ vào vai Lâm  làm tỉnh cơn ác mộng. Mồ hôi lạnh ướt cả sống lưng và cơn  nóng hâm hấp đầu hôm bây giờ giảm hẳn.

Mùi ẩm mốc của ngôi nhà xông vào mũi để lòng Lâm thêm thương cảm. Trước năm 1975, ngôi nhà của chị em Hùng lúc nào cũng sáng sủa. Phòng khách được trang trí rất đẹp mắt. Các cửa sổ treo rèm vải hoa trang nhã. Giờ đây, nhà nào cũng xuống cấp. Cái ăn chưa đủ còn đâu lo đến căn nhà.

* * *

Sáng dậy, khi màn đêm còn phủ mờ phố xá, Hùng đèo Lâm trên chiếc xe đạp cọc cạch đến thăm mộ mẹ của Hân . Nghĩa địa của thị trấn bây giờ nằm tận Truông Sim xa hàng chục cây số. Ðường đi phải qua một cái hẻm hẹp đầy đá tảng. Nghĩa địa thị trấn trước kia nằm bên quốc lộ 1. Sau 1975, chính quyền Huyện ra lệnh dời hết mộ để xây dựng đài liệt sĩ và nghĩa trang dành cho người “có công cách mạng”. Ngôi mộ nào không có chủ bị san bằng. Thời gian sau nầy có khá nhiều huyệt mới đào lên gặp hài cốt cũ đều bị dồn vào hố rác.

Vua Gia Long đã bị vết đen trong lịch sử bởi hành động quật mồ vua Quang Trung để trả thù. Cộng sản Việt Nam chẳng những phá mộ của các tử sĩ miền Nam mà còn san bằng mồ mả của cả dân chúng trong các nghĩa địa. Ma Cộng sản có chức có quyền được chôn nơi nghĩa trang lộng lẫy giữa thành phố. Ngày lễ, ngày Tết được trang hoàng cờ xí, đèn đóm. Ma thường dân bị đày đến  các nơi hẻo lánh.

Lâm không muốn lưu lại lâu hơn nơi thị trấn đầy kỷ niệm nầy. Sau khi thắp ba tuần nhang trên mộ bà Cẩm, người vợ thuần lương đã bị lừa đảo cả tình yêu lẫn niềm tin, anh từ biệt Hùng, đón xe về vùng kinh tế mới Cát Tiên, nơi bị cưỡng bức cư trú.

Chiếc xe chở đầy khách và hàng hóa không giới hạn trọng tải. Trên mui chất cao ba tầng heo gà. Trong lòng xe hàng hóa nhét chặt cứng khắp mọi nơi. Khách đứng ngồi hết còn cựa quậy. Nước đái heo xổ tràn trên các cửa sổ, gió tạt vào xe ướt cả đầu, cả mặt khách ngồi. Qua mỗi trạm Công an trình giấy lưu thông, tài phụ nhanh nhẹn kẹp vào giữa xấp giấy mấy tờ bạc.

“Phú Tài bà con ơi !” Tiếng bác tài vang lên báo hiệu xe sắp tới trạm kiểm soát thuế vụ. Con buôn bắt đầu lao xao, kẻ nắn lại túi, người sửa lại lưng quần… Họ hồi hộp lo âu ra mặt.

Xe lui vào trạm. Một cán bộ thuế vụ cầm gậy đến gõ gõ vào bánh xe, thùng xe và cả dưới lườn xe. Tài xế đích thân gặp trưởng trạm. Mọi người dõng mắt chờ đợi. Ðây là cuộc thương lượng chết sống cho toàn thể vốn liếng của “bạn hàng ruột” đi xe.

Tài phụ bất ngờ quay lại, hắn vừa chạy vừa lắc đầu, con buôn thót tim! Hắn ra dấu một bàn tay gợi ý bảo: “Ðóng thêm năm chục ngàn, lý do : heo thịt nhiều!”.

-“Ð.m. ăn tận đáy” !  Một bà sồn sồn vừa chửi thề vừa móc tiền ứng trước đưa cho phụ xe.

Cuộc thương thảo kết thúc. Hàng hóa không bị bốc xuống, hai bên đều lợi, cán có tiền bỏ túi riêng và chi cho ô dù, chuyến hàng được tới sớm. Chỉ có người tiêu thụ gánh chịu hết những hậu quả nầy. Ðây là nguyên nhân khiến cho vật giá leo thang!

Con buôn phải chi tiền hối lộ cho thuế vụ từ lúc lên hàng hóa tại bến xe và dài dài trên suốt lộ trình vận chuyển. Trót lọt được các trạm đầu, có thể rủi ro bị sạt hàng đóng thuế ở trạm cuối. Ngoài nạn đóng thuế nặng nề, con buôn còn bị lắm cảnh hao hụt khác như gia súc chết dọc đường, hàng quốc cấm bị tịch thu… Tệ hại hơn nữa là  một số bà, số cô còn phải đóng “thuế tình” cho bác tài xế, gã tài phụ để được cất giấu hàng cẩn trọng và kín đáo hơn. Họ đã đánh đổi “vốn đời con gái” để giữ lấy “vốn bác hồ”!

 

Qua chiều hôm sau, Lâm mới đến được khu kinh tế mới Cát Tiên. Tên nghe rất thơ mộng nhưng là chốn tử địa của biết bao nhiêu người bị bệnh sốt rét vàng da. Ðây là một thung lũng hoang vu nằm giữa những rặng rừng già. Lâm sơn chướng khí và mầm bệnh tích tụ lâu đời trong khu đầm lầy đầy oan nghiệt.

Khi hoàng hôn phủ lên miền thung lũng, rừng đổi màu tím sậm rồi hòa dần vào bóng đêm âm u. Nhìn lên bầu trời giống như chiếc thúng khổng lồ đựng đầy sao úp chụp lên cả vùng rộng lớn.

Một nhà thơ trong đêm đầu tiên đến chốn lưu đày Cát Tiên đã  ghi tâm trạng của mình:

 “Và dừng lại bên góc rừng ngơi nghỉ

Thở cùng đêm và ngủ với ngàn mưa

Con dế ré những tiếng buồn trên cỏ

Ôi bầu trời như cái thúng đựng khuya!” (**)

—————————–

(**) Thơ Nguyễn Ba La.

Lâm  thở dài ngao ngán ! Từ một nhà tù nhỏ bước sang một nhà tù lớn. Chàng trình diện chính quyền địa phương, nói một cách đúng nghĩa hơn là nhóm “cai tù trá hình” canh giữ người dân không được trốn ra khỏi vùng Kinh Tế Mới. Không bà con thân thuộc, không nhà cửa, Lâm trở thành một dự bị công dân lông bông nhưng lại được ghi tên trong “sổ đoạn trường hộ khẩu”. Từ nay Lâm phải đến trình diện và viết tường thuật công việc làm hàng tuần cho công an bảo vệ chính trị.

Bộ đồ đang mặc đã bắt đầu lên mùi, Lâm vội vã xuống bờ sông tắm giặt . Qua mười năm, đây là lần đầu tiên chàng được tắm rửa một cách tự do và thoải mái, không giới hạn thời gian, không nòng súng lăm lăm của công an giữ tù. Dù từ sáng tới giờ chưa ăn một chút gì lót da chàng vẫn thấy hứng khởi trong lòng. Giá trị của tự do là thế!

Lâm phơi bộ quần áo của Hùng biếu lên đá cuội rồi chui vào bụi rậm chờ khô.            Nhìn thân thể trần truồng, chàng mĩm cười  nhớ đến câu chuyện Chử Ðồng Tử đào cát giấu mình nhưng không may bị công chúa Tiên Dung phát giác khi nàng tắm.

Lâm đang suy nghĩ miên man, bỗng có tiếng chân người đi lao xao trên đá cuội dọc bờ sông. Chàng vội giật bộ quần áo ướt ôm vào người. Tiếng những bước chân đổi hướng về lùm cây bên tay trái cách chàng mấy bụi lau sậy. Chợt giọng õng ẹo của người con gái kêu lên:

– Làm gì vội thế, người ta trông thấy kìa.

Tiếng một người đàn ông nhài nhại trong cơn say :

– Có ma nào dám léo lánh đến khu vực này, rồi thì thào tiếp :

– Mấy lứa rồi mà da bụng nhăn thế ?

Một tiếng hứ của cô gái rồi tiếp theo là tiếng cười khúc khích nhột nhạt, giọng thỏ thẻ:    – Mới “phóng thích” của nợ đấy.

– Của ai thế ?”                                                                                                                                 

 – Lão thủ trưởng dâm chịu không nổi.

Ngưng một lúc y thị tiếp :

– Vợ lão dữ như sư tử Hà đông mà còn chạy làng…

Tiếng người đàn ông :

– Do vậy nên đằng ấy mới xin thuyên chuyển về đây phải không ?

Giọng cô gái cợt nhả :

– Không thế, làm gì có cho anh… hôm nay.

Tiếng sột soạt, tiếp theo là những tiếng rên khe khẽ phát ra từ cái bụi rậm ấy khiến cho Lâm nóng ran cả người.

Chữ “phóng thích” thoạt nghe Lâm giật mình. Sau, chàng mới hiểu rằng y thị đã trục bào thai. Nền đạo đức suy đồi đến độ phá thai chẳng cần giấu giếm. Có lẽ đó là cách giải quyết thường tình trong hàng ngũ cán bộ mỗi khi có “trục trặc” trong quan hệ thể xác.

Có tiếng chèo khua nước từ hướng đầu nguồn, mỗi lúc mỗi lớn dần. Rồi một chiếc xuồng con xuất hiện trên dòng sông.                               “Dừng lại !”

Tiếng quát phát ra từ bụi rậm rồi một người đàn ông xuất hiện cùng với cô gái. Cả hai đều đội nón cối màu ô-liu. Người con gái có mái tóc dài kẹp chúm buông thõng phía sau lưng. Người đàn ông vừa mang túi dết lên vai vừa ra lệnh thằng bé trạc tuổi mười ba tấp xuồng vào bờ. Mặt nó tái xanh. Tay nó gắng sức nạy chiếc giầm cho mũi xuồng ủi vào bờ. Trên xuồng chở một bao tời than hầm.

Cán bộ kiểm lâm quát :                                                                                            – Bỏ bao than xuống.                                                                                      Thằng bé van xin :                                                                                       Bác ơi, xin bác tha cho. Cháu không phải là thợ đốt than chuyện nghiệp. Cháu tranh thủ làm thêm  cuối tuần để trả tiền học phí, tiền đóng góp xây dựng học đường.

Tên Kiểm Lâm hùng hổ chụp lấy mũi  thuyền kéo mạnh vào bờ cát.       Thằng bé tiếp tục van xin :                                                                               – Bác ơi, tội nghiệp cháu mà ! Mẹ cháu đang đau nặng cần tiền mua thuốc và còn phải trả tiền nằm bệnh viện nữa. Trăm lạy bác, ngàn lạy bác cháu đội ơn mà, xin tha cho cháu bác  ơi!”

Mặt cán bộ lạnh lùng, vừa kéo bao than lên bờ vừa gằn giọng:                   Khôn hồn thì xéo đi, cứ lải nhải ông bắt về trạm, tù mọt gông con ạ!                                                

Thằng bé bật khóc. Có lẽ nó hiểu rõ bản chất của cán bộ kiểm lâm, hắn vừa bước lên xuồng vừa lau nước mắt. Hai bàn tay dính đầy bụi than bôi lên khuôn mặt đen đủi, gầy gò.

Nó khom người xuống, dùng mái chèo đẩy chiếc xuồng ra xa để lộ một mảng lưng trần nơi chiếc áo rách tả tơi bay phất phơ trong gió.

Cặp cán bộ kiểm lâm hớn hở bảo nhau :

“Có than đun cho đồng chí Bí thư rồi đấy”. Chúng vừa khệ nệ khiêng bao than hầm vừa nhìn nhau cười tình tứ./

Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích