Một Thoáng Tuổi Thơ

Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Ngay từ lúc gà gáy sáng đầu tiên là thôn An Thọ vang lên tiếng gọi nhau ơi ới của đám học trò Rừng Xanh. Tay xách đèn bão, vai mang túi đựng sách vở và gói cơm trưa, chúng kéo nhau đến trường.
Rừng Xanh là trường Trung học thuộc khu Bắc tỉnh Quảng Ngãi trong hệ thống học đường Việt Minh thuộc Liên Khu Năm. Trường toạ lạc giữa rừng cầy cách thôn Vượng gần năm cây số đường chim bay và cách quốc lộ Một khoảng 6km. Ðể tránh “cặp mắt cú vọ”của máy bay địch, các phòng học mái tranh vách đất ẩn mình dưới những tàng cây cổ thụ rải rác trên khu đồi rộng lớn.
Quân Pháp tăng cường phá hoại kinh tế trong vùng Việt Minh bằng các cuộc oanh kích của phi cơ. Chúng bắn bừa bãi vào các ghe đò, chợ búa, trường học và trâu bò. Phụ huynh lo sợ không cho con em đến trường. Mặt khác, đời sống ngày một khó khăn, bạn bè của Vượng phần lớn đều bỏ học chỉ còn một số ít gia đình có khả năng cho con em tiếp tục lên bậc trung học. Vượng, Dưởng và Hoanh là nhóm bạn từ tiểu học. Cô bé Thu là nữ sinh duy nhất của thôn nhà nay còn tiếp tục đến trường.
Lê thị Ngọc Thu là cháu ông Ba Thường. Quê Vượng không ai là không biết loại xà phòng nhãn hiệu BA THƯỜNG. Dù với dụng cụ thô sơ và nguyên liệu thu mua tại địa phương, ông Ba Thường đã sản xuất được những bánh xà phòng giặt có chất lượng. Tuy chưa đạt được tiêu chuẩn cao nhưng xà phòng Ba Thường đã giúp dân địa phương qua cơn ngặt nghèo của giai đoạn ngăn sông cách chợ.
Bố của Thu là một Trung đoàn trưởng Vệ Quốc Ðoàn. Hàng xóm chẳng biết mẹ của Thu là ai, chỉ thấy ông bà Ba Thường đem về nuôi từ khi Thu lên ba tuổi. Lớn lên trong sự nuông chiều nên cô bé nhút nhát và đa cảm.
Qua khỏi bậc tiểu học, Thu đã trở thành một thiếu nữ, duyên dáng. Khuôn mặt trái soan, mũi dọc dừa, màu da trắng hồng làm nổi bật đôi mắt đen long lanh. Ðám con trai trong làng lắm phen bối rối trước vẻ đẹp sắc sảo của cô gái dậy thì.
Tạ văn Hoành ở cạnh vườn nhà Vượng là bạn thân từ thuở còn mặc quần xà lỏn. Hai đứa đã từng ngồi chực bên lò bún của ngoại Vượng ăn những cục bột bị xì ngoài khuôn. Trước năm 1945, hai gia đình có khá nhiều cách biệt về địa vị xã hội. Dòng họ Vượng làm chức sắc trong làng xã từ đời ông Cố. Người địa phương thường gọi bố Vượng là cụ Xã Ba. Còn cha me Hoành  chỉ là hàng dân dã, tuy vậy, hai gia đình rất thân nhau.
Xã Lộc Sơn nằm dọc theo hữu ngạn bờ sông Trà Khúc. Nước tưới cho mùa lúa tốt tươi bằng những guồng xe nước, một công trình dẫn thủy nhập điền độc đáo của quê hương xứ Quảng. Mùa lụt hàng năm, nước sông mang phù sa bồi đắp cho các cánh đồng thêm phì nhiêu. Dòng Trà Giang hiền hòa, nước lững lờ trôi giữa đôi bờ. Một bên dãi cát vàng sáng mịn, bên kia là bờ tre xanh lả ngọn đong đưa theo từng cơn gió nồm mát rượi. Ðời sống thanh bình, no ấm. Dân chúng giữ được nề nếp cổ kính của cha ông.

Sáng ngày 19 tháng 8 khi màn đêm còn phủ kín thôn làng, bỗng tiếng mõ tiếng cồng nổi lên vang dậy. Tiếng loa thúc giục đồng bào lên đường tham gia khởi nghĩa “đánh Tây đuổi Nhật”. Từng đoàn người đổ xô về tỉnh lỵ. Kẻ xách đèn gió, người mõ tre, kẻ cầm giáo mác, người vác gậy tầm vông. Lạ mắt nhất là lá cờ màu đỏ, xuất hiện lần đầu tiên đã kích thích tính hiếu kỳ của lũ trẻ con đứng xem hai bên đường. Ðoàn nữ du kích Ba Tơ mặc toàn đồ đen, quần cộc có thắt dây thun ngang đùi. Họ chào nhau bằng nắm đấm đưa lên ngang tai, miệng hô : “Hy Sinh Vì Tổ Quốc”. Phong tục tập quán của dân tộc ta được cải cách bằng hình thức chào nhau du nhâp từ xứ người. Và danh từ “đồng chí” được gọi nhau từ đó. Bố Vượng cũng hăm hở nhập vào làn sóng người tiến về sân vận động tỉnh. Ðoàn người bừng bừng sát khí kéo dài suốt huyện lộ trong ngày khởi nghĩa năm 1945.

Qua ngày thứ hai, Ủy Ban khởi nghĩa kích động dân chúng đến vây nhà ông Tú Thao., một điền chủ có thế lực nhất trong xã. Họ trói ké ông và người con trai cả là Ðại Hào Trì dẫn về cơ quan “Cách mạng”. Toàn bộ tài sản của ông ấy bị tịch thu và kẻ ăn người ở bị đuổi về quê. Thân nhân trong gia đình bị dồn vào căn nhà ngang có đội “Cảnh-Vệ” canh giữ. Ngôi nhà thờ lớn được trưng dụng làm trụ sở của Ủy ban Nhân Dân Cách Mạng.
Ngày hôm  sau, họ áp giải cha con ông Tú đến địa điểm đã được tập trung dân làng từ tảng sáng. Trên bãi Xoang cạnh dòng sông Trà đã đóng sẵn hai cây cọc chỉ cao trên tầm thắt lưng. Họ ấn hai nạn nhân quì xuống rồi quấn chặt dây thừng quanh người vào cọc. Một người đàn ông nhỏ thó, khuôn mặt loắt choắt tiến ra trước đám đông đọc bản cáo trạng lên án ông Tú là một đại điền chủ gian ác bóc lột tá điền, cậy quyền hiếp đáp nhân dân. Người con cả tên Ðại Hào Trì là Việt gian thân thiện với Pháp, Nhật. Ủy ban khởi nghĩa tuyên bố hai cha con ông Tú có tội với cách mạng, với nhân dân. Cả rừng người im thin thít. Ðột nhiên, lão ta la lớn:
“ Ðồng bào tha hay g.i.ế.t ?”
Tiếng g.i.ế.t sau cùng kéo dài là ám hiệu dứt mạng sống của hai nạn nhân. Cả pháp trường như chết lịm. Bỗng có tiếng “g-i-ế-t, g-i-ế-t” của một người nào đó giữa đám đông vang lên đã lôi cuốn lượng sóng người cùng cất tiếng hô theo rập ràng ::
“G-i-ế-t, g-i-ế-t”
Một tên đao phủ không biết từ đâu xuất hiện. Ðầu hắn trùm một bao vải màu đen, đôi mắt đỏ ngầu hiện ra sau hai lỗ tròn. Hắn cầm một thanh mã tấu sáng lấp loáng dưới ánh mặt trời bước đến phía sau nạn nhân, hai chân đứng tấn. Bất thần , hắn hét lên “sát”. Người ta chỉ thấy một đường sáng trắng đi vào gáy ông Ðại Hào Trì.  Lưỡi đao cắt ngọt chiếc cổ trắng ngần, đầu nạn nhân văng ra xa, máu phụt lên thành vòi. Máu nhuộm đỏ cả bộ đồ trắng nạn nhân đang mặc. Máu tưới đỏ cả một vùng cát rộng. Dân chúng khiếp sợ, kẻ bịt mắt, người bụm miệng nôn thốc, nôn tháo.
Ðến phiên người cha, tên đao phủ có lẽ yếu tay nên phải chém đến hai lần. Ðầu ông Tú Thao  vẫn còn dính lớp da cổ treo lủng lẳng trước ngực. Cái cổ bày ra những sợi gân bầy nhầy trắng hếu. Ðiều ngạc nhiên là không có giọt máu nào chảy ra. Người ta thầm thì: “ Ông Tú sợ quá tắt thở truớc khi bị hành quyết !” Dù chưa đạt được nghệ thuật “chém treo ngành” như nhà văn Nguyễn Tuân miêu tả, nhưng tên đao phủ đã thể hiện bản lãnh giết người chuyên nghiệp.
Lần đầu tiên mảnh đất của những người nông dân hiền lương, chất phác của làng tôi, suốt mấy mươi đời lấy nghĩa tình đối đãi với nhau giờ đây phải chứng kiến cảnh tàn bạo sắt máu tưởng chừng như một cơn ác mộng !
Tại thôn Phước Lộc cũng xảy ra cuộc lùng bắt ông Chánh B. trong ngày hôm sau. Dòng ho ông Chánh nổi tiếng giàu có mấy đời. Chẳng biết mấy đời trước có bóc lột hay không, nhưng đời ông Chánh năm nào cũng tổ chức phát chẩn cho người nghèo vào dịp chạp mả.
Lực lượng “ cách mạng” lôi ông Chánh trốn trong vựa lúa. Sau tuần lễ giam giữ để tra xét tài sản của gia đình, chúng bịt mắt áp giải ông thẳng đến Gò Ðồn. Sau khi cột nạn nhân vào cọc, cũng lại người đàn ông ấy đọc bản án có nội dung như sao nguyên bản cáo trạng dành cho cha con ông Tú. Vừa đọc đến phần tuyên án, bỗng xuất hiện một người đi ngựa vạch lối vào pháp trường. Người lạ mặt trao cho Trưởng Ban một phong bì. Bức thơ tối khẩn được mở ra và cuộc hành quyết bất ngờ bị đình chỉ. Tiếng tạ ơn phật trời nghe lâm râm trong đám dân dự khán. Người nhà ông Chánh quỳ tại chỗ lạy trời, lạy đất lạy luôn cái lệnh khoan hồng! Ông Chánh tạm thời giữ được mạng sống, nhưng tâm thần ông đã chết. Nỗi khiếp sợ làm rối loạn thần kinh và ông hoàn toàn mất trí vào những năm cuối đời.
Sau ngày khởi nghĩa một thời gian ngắn, họ đem ông Tạ Thu Thâu xử bắn tại làng Xuân Phổ nằm bên kia sông . Ông là nhà cách mạng cùng thời với Nguyễn Ái Quốc. Chỉ khác nhau, kẻ theo Lenin, người theo phái Trosky. Thế nên không thoát được bàn tay của lực lượng đối kháng khi ông Thâu trên đường từ Nam vào Bắc, dừng chân tại Quảng Ngãi.
Trận lụt năm đó, những chùm xác người trôi lềnh bềnh trên dòng sông Trà chen với cũi lụt. Ðó là xác của đạo hữu Cao Ðài, những người thân Pháp, thân Nhật, … Người ta chưa kể đến những nạn nhân tư thù bị chôn sống hoặc dìm xuống biển.
Những ngày tháng hãi hùng trên miền đất được mệnh danh là “cái nôi của cách mạng miền Trung ” đã in sâu trong ký ức tuổi thơ của Vượng.

Chính quyền “Cách Mạng” được thiết lập. Ông Tạ Hường, cha của Tạ văn Hoành bỗng dưng làm Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Xã Lộc Sơn. Những tá điền, người làm thuê gánh mướn trở thành giai cấp lãnh đạo. Trong các buổi tập trung sinh hoạt toàn dân, họ được ngồi ghế trên và được gọi “đồng chí ”. Từ đó họ trở thành  một đám người hãnh tiến!
Những tá điền có lương tâm vẫn còn chào kính ông chủ cũ của mình thì bị phê bình là  chưa dứt bỏ “tư tưởng phong kiến”. Nam nữ thanh niên thuộc giai cấp bần cố nông yêu thương con nhà tư sản đều bị ghép tội “phản bội giai cấp”. Dần dà, cái tình láng giềng, tình bà con trong thôn xóm bị phân chia rời rã. Họ nghi kỵ và giữ kẽ lẫn nhau.

Ðường đi đến trường Rừng Xanh phải qua khu chợ Phước Lộc. Học sinh sợ nhất là lúc ngang qua cái lều có người con gái mang tật bẩm sinh tên Sáo. Hai chân nó teo dính sát vào mông, tay dài như vượn, đầu to một cách khác thường. Ngày ngày, Sáo lết trên miếng mo cau xin ăn quanh chợ, tối ngủ trên sạp bán hàng. Khi nằm, nom nó như một pho tượng bán thân bị xô ngã. Ðám học sinh sợ nhất là tiếng hú của nó như chó tru . Cô bé Ngọc Thu sợ đến run người. Mỗi lần qua đó Thu thường đi rón rén nép sát người vào Vượng. Ðôi bàn tay cô bé run rẫy nắm chặt tay Vượng. Tình yêu của hai người bắt đầu từ đấy, một mối tình học trò thơ ngây và đầy thơ mộng, đã tiếp sức cho nhau vượt qua những tháng ngày khó khăn suốt bao mùa học.
Rồi, con Sáo bỗng nhiên mất biến. Học trò đi qua cái lều “ma quái” ấy không còn phải hồi hộp, sợ hãi. Người ta đồn đãi con Sáo vào nhà hộ sinh tỉnh để sinh con. Nó có chửa, phải mổ lấy con ra. Có người biết tác giả cái bào thai ấy là tên thôn trưởng , không vợ không con chuyên làm nghề quét chợ , nhưng chẳng một ai dám hở miệng.

Trời hạn hán trong hai năm liền. Ruộng đồng, ao hồ khô nứt nẻ. Mùa màng mất trắng, dân chúng lâm vào cảnh thiếu ăn. Chính quyền hối thúc dân đóng thuế nông nghiệp, ủng hộ nuôi quân. Dân ù lì thì chính quyền tăng cường biện pháp vừa động viên vừa gây áp lực. Ðội thiếu niên, nhi đồng đêm nào cũng đi truyền hịch khua chiêng, gõ mõ tận các thôn làng vắng vẻ kêu gọi mọi người thi đua nộp thuế. Những bài hát, hò vè được đem ra sử dụng riết rồi bà già, con nít đều thuộc : “…Ðủ rồi lúa thuế đã đủ rồi, phơi khô với quạt sạch chỉ chờ ngày đong thôi…”. Phong trào “Tiết kiệm nuôi quân”, bớt một nắm gạo cho mỗi lần nấu cơm, cũng được phát động rầm rộ.
Trường học, đoàn thể luôn luôn áp dụng phương pháp kích thích tính anh hùng của tuổi trẻ. Ðảng đẩy chúng làm công tác “tình báo” theo dõi, phát giác những ai cất giấu lúa gạo, hoa màu.
*  *  *
Buổi sinh hoạt hàng đêm của đội Thiếu Niên Tiền Phong được giải tán sớm hơn thường lệ. Vượng về nhà thấy cha mẹ đang hì hục đào một hầm sâu ở giữa nhà dưới ánh đèn lờ mờ. Mẹ Vượng bảo:
“Ðộ nầy máy bay địch hay đến bất ngờ, cha mẹ đào cái hầm trú ẩn nầy để phòng khi cấp bách”.
Quên bẵng đi khá lâu, một hôm, Vượng tò mò lật những viên gạch trên nền nhà, hắn ngỡ ngàng trước ba chum lúa nằm bên dưới. Ngay ngày hôm sau Vượng hăm hở tố cáo cái bí mật ấy lên đoàn thể. Lập tức,Vượng nhận được bằng tuyên dương của huyện, rồi được bình bầu cá nhân xuất sắc tham dự Ðại hội Thanh Thiếu Niên Tiền phong toàn tỉnh, nhận quà thưởng danh dự của Liên Khu. Ðại hội vinh danh Vượng là “Thiếu Niên Anh hùng” và được các anh huynh trưởng công kênh đi vòng quanh đống lửa trại.
Phần cha mẹ Vượng bị đưa ra kiểm thảo, phải nhận tội trước đồng bào toàn xã. Ông bà đã khóc hết nước mắt khi chính quyền quyết định tịch thu số lúa ấy bỏ vào quỹ nuôi quân! Rất đau lòng, nhưng cha mẹ Vượng không hề trách mắng đứa con trai khờ dại.

Mùa Ðông năm 1952, cái lạnh cắt da đã đồng lõa với nạn đói giết chết rất nhiều  người. Dân miệt biển đổ xô lên vùng nông thôn kiếm ăn. Dân vùng quê ùn ùn xuống biển gánh nước mặn về nấu làm muối. Tất cả những gì ăn được đều cạn kiệt. Cây chuối, đọt dứa, chà là hầu như bị tàn rụi. Xác người chết đói rải rác trên đường quê và ven biển. Cơn đói hành hạ khiến con người liều mạng. Nơi nào còn bụi sắn, vồng khoai là họ nhào vô cướp giựt bất kể gậy gộc hay giáo mác của chủ vườn.
Ðoàn Thanh Thiếu Niên Tiền Phong làm công tác cứu giúp đồng bào, đã chứng kiến cảnh một phụ nữ mang thai nằm chết dưới gốc đa. Bà bị ngã từ ngọn cây cao xuống đất miệng còn ngậm đầy búp cây si trộn máu. Toán Thanh niên khiêng xác bà về nhà lại mục kích một cảnh thương tâm khác. Ðứa con lên ba của bà nằm chết cóng bên đầu hồi. Ðứa bé chờ mẹ, nhưng cơn đói và lạnh đã giết chết em. Tuổi trẻ bàng hoàng trước cảnh đời bi đát của gia đình nạn nhân. Nỗi bất hạnh đến dồn dập với gia đình nầy từ khi người chồng đi gánh nước biển về làm muối ăn  bị sóng cuốn trôi.

Nạn đói ở Miền Bắc năm 1945 khá khủng khiếp thì nạn đói 1952 ở vùng Liên Khu Năm cũng chẳng kém gì. Chính quyền Việt Minh đã che giấu lý do. Dân chết đói ở Miền Bắc do Nhật bắt dân phá lúa trồng đay. Còn nạn đói tại bốn tỉnh Nam Ngãi Bình Phú do Việt Minh gom thu lương thực,vét cạn tài nguyên của dân chúng, dồn cho giai đoạn “Cầm cự, chuẩn bị phản công” đánh Pháp.
Những gói cơm trưa của học sinh mang theo hầu hết trộn bắp xay vào  gạo. Riêng Tạ văn Hoành cơm lúc nào cũng mịn màng trắng tinh. Bên trong vắt cơm thường là món thịt rim mặn. Hắn ít khi ngồi ăn chung với bạn học. Người hiểu Hoành nhiều nhất là Vượng. Từ ngày ông Huờng, bố hắn làm Bí Thư kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Xã, bữa ăn của gia đình Hoành rất sang trọng. Người dân muốn làm thịt con gà phải lén lút. Bữa ăn nào có ít thịt hay cá dân phải che giấu, sợ bị phê bình. Nhà ông Bí Thư Huờng không sợ ai phê bình, chỉ sợ dư luận quần chúng đánh giá cái mẫu mực đạo đức cách mạng : “Cần Kiệm Liêm Chính, Chí Công Vô Tư ” ! Tạ văn Hoành phải che giấu gói cơm “thượng đẳng” của mình là vì thế..

Nhà trường giáo dục học sinh phải đặt nặng tinh thần tập thể và quý trọng  lao động. Trong học trình chỉ có nghỉ Mùa thay vì nghỉ Hè. Cứ đến mùa thu hoạch lúa là nhà trường cho học sinh nghỉ một tháng. Một niên khóa có hai lần nghỉ Mùa. Ðiểm “tăng gia sản xuất” cùng hệ số với các môn học chính. Nhân vật nổi bật về số điểm của môn nầy là tay Hiệu đoàn trưởng Nguyễn Dương. Hắn yêu cuốc đất trồng rau ngoài trời hơn là ngồi trong lớp học. Nhờ vậy mà điểm cuối năm của y luôn luôn dẫn đầu.
Trần Văn Sùng, bạn học của Vượng, hắn thuộc loại  chúa sợ máy bay bởi lẽ hắn thoát chết trong trận phi cơ dội bom đánh sập hầm của người bạn kế bên. Trong giờ học, hắn để tai nghe tiếng máy bay hơn là tiếng giảng bài của thầy giáo. Có lần cả lớp đang say mê theo dõi bài giải toán trên bảng. Bất chợt, Trần văn Sùng phóng mình qua cửa sổ. Mọi người thất kinh chẳng biết việc gì xảy ra , liền sau đó là tiếng kẻng báo động vang lên. Thì ra Sùng đã nghe tiếng máy bay trước người trực gác. Từ đó mỗi lần Sùng chạy là thầy trò bỏ lớp chạy ra hầm trú ẩn. Tuy vậy, cái thính giác trời cho cũng có lúc hắn lầm tiếng gió thổi khiến cả lớp lầm theo.
Sung là cậu học trò giỏi toán nhưng chưa được thầy giáo khen bằng cái hầm núp máy bay của hắn luôn được xếp hạng nhất. Hầm vừa sâu, vừa kiên cố. Hắn có sáng kiên rất độc đáo là đào ngách hầm luồn dưới bụi tre. Bom có thể đánh sập hầm, làm sao sập nổi cả lùm tre. Ðể bảo vệ áo quần khỏi bị mòn rách, Sùng có thói quen cởi hết áo quần treo cẩn thận trên cây, chịu trần truồng xuống hầm ngồi moi đất. Lớp da mông sần sùi, dày cộp đã chứng tỏ hắn  cần cù chịu đựng lết đất biết bao! Bạn học đùa dai lén mang áo quần của hắn vào lớp. Thế là hắn ngồi lì dưới hầm đến giờ tan học. Sùng không có khiếu văn nghệ. Bù lại, điểm tình nguyện gác máy bay lại khá cao.

Ðồn Komplong do quân Pháp trấn đóng giáp ranh hai tỉnh Quảng Ngãi và KonTum như ngọn giáo thường trực đâm vào yết hầu Liên Khu Năm. Vì thế, Bộ tư lệnh Liên Khu điều động hai Sư đoàn cùng với lực lượng địa phương thuộc hai tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam đồng loạt tấn công đồn. Chiếm được đồn nhưng không tránh được sự tổn thất nặng nề. Bệnh viện không đủ chỗ chứa, thương binh phải phân tán ngoài nhà dân.
*  *  *
Trời vừa hừng sáng, Vượng theo chân anh nuôi sang sông thăm đồng đội của anh bị thương đang nằm điều trị tai quân y viện. Khi trở về, anh đưa Vượng qua chuyến đò An mỹ. Ðò đến giữa sông, chợt hai khu trục cơ bay dọc theo bờ sông đột nhiên đảo lại . Ðoán biết máy bay địch sẽ bắn đò, anh nuôi bộ đội của Vượng  bỏ đò bơi ra xa quên đứa em nằm trên mục tiêu của tàu bay địch. Bị trúng đạn, đò chìm, hai người chết , một bị thương. Phi cơ bỏ đi. Ðồng bào ùa ra sông tiếp cứu. Vượng may mắn không hề hấn gì.
Qua cơn khiếp đảm, Vượng chưa hoàn hồn, bỗng Ngọc Thu xuất hiện. Nghe tin trên đò bị oanh tạc có Vượng, cô bé hớt ha hớt hãi chạy đến bến đò. Nhìn thấy Vượng trong bộ đồ sũng ướt, Thu nhào tới ôm lấy Vượng trước sự ngạc nhiên của mọi người. Cô bé úp mặt vào vai Vượng để che dấu những giọt nước mắt vui mừng.
*    *   *
Buổi học cuối cùng trước đợt nghỉ Mùa Ðông Xuân, học sinh được lệnh tập họp. Ban Hiệu đoàn đưa trò Hà Phùng ra kiểm thảo toàn trường. Lý do : Phùng lấy cắp chiếc đồng hồ bỏ túi của thầy giáo Ð.. Trò Phùng không nhận lỗi bởi hắn không cố ý lấy cắp, nhà trường quyết định đuổi học.
Phùng đã vượt quá tuổi mười bảy. Dáng người cao ráo, bảnh trai lại thêm ngón đờn ghi-ta điêu luyện. Anh có người yêu khác lớp tên Phương S. Cô nàng được xếp hạng hoa khôi của trường.
Giờ tan học Phùng không về nhà. Ngày hôm sau lũ trẻ chăn bò phát giác xác Phùng treo cổ ngay trong văn phòng hiệu trưởng. Chiếc đồng hồ Phùng lượm ngoài giếng chưa kịp đem lên văn phòng trao trả thì có người đến lục soát trong túi Phùng.
Cái chết của Hà Phùng không làm cho học sinh của trường sửng sốt bằng tin tức được  loan truyền sau đó là cô nữ sinh Phương S. trở thành vợ của thầy giáo Ð.     là thầy Phó Hiệu Trưởng của trường ./